Việt Nam Recreational Hybrid Sports

BLOG

Snookball

12/08/2016

-

Mai Thị Hạnh

-

0 Bình luận

THỂ THAO GIẢI TRÍ LÀ NHU CẦU TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI HIỆN
ĐẠI
GS.TS. Dương Nghiệp Chí;
TS. Lương Kim Chung; Lê Tấn Đạt
Trên thế giới, thể thao giải trí là một bộ phận quan trọng và cấu thành của
nền thể dục thể thao. Xã hội càng phát triển, đời sống nhân dân càng cao, nhu cầu
thể thao giải trí càng lớn.
Ở nước ta, thể thao giải trí đã bước đầu phát triển tốt. Vì vậy, thể thao giải trí
đã được thể chế hoá trong Luật thể dục, thể thao công bố ngày 12/12/2006. Thể
thao giải trí đang phát triển thuận lợi nhờ sự hình thành các tổ chức xã hội tương
ứng như Hội thể thao điện tử và giải trí Việt Nam.
Để tiếp tục phát triển thể thao giải trí, chúng ta cần đưa môn học "thể thao
giải trí" vào giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học thể dục thể thao trên quy
mô toàn quốc. Có thể coi môn học này như một bộ phận tương đối độc lập, góp
phần hoàn thiện tổng thể "Lý luận và phương pháp thể dục thể thao".
Do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế -
xã hội của thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ trong những năm gần đây, dẫn
đến sự biến đổi to lớn của thể dục thể thao. Trong đó, thể thao giải trí phát triển
mạnh mẽ là một minh chứng, trở thành một bộ phận phong phú, đa dạng của ngành
TDTT. Chính sự phát triển này, đưa lý luận thể thao giải trí trở thành một bộ phận
của lý luận và phương pháp thể dục thể thao, góp phần nghiên cứu những quy luật
và những cơ sở về phương tiện, phương pháp trong lĩnh vực TDTT. Không những
thế, thể thao giải trí còn trở thành phương tiện quan trọng để góp phần phát triển
kinh tế thể dục thể thao, góp phần hình thành ngành công nghiệp giải trí.
Ngay từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, thế giới đã bắt đầu nhận biết
chức năng về giải trí và hồi phục sức khoẻ của thể dục thể thao. Nhận thức này đã
ảnh hưởng đến TDTT nước ta, vì vậy trong cấu trúc TDTT có đề cập đến TDTT
giải trí và hồi phục sức khoẻ ở góc độ lý luận. ở góc độ quản lý TDTT, cho tới cuối
năm 2006, chúng ta vẫn coi cấu trúc thể dục thể thao Việt Nam bao gồm ba bộ
phận cấu thành: TDTT quần chúng, TDTT trường học, thể thao thành tích cao. Tuy
nhiên, nhờ công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, kinh tế - xã
hội đang từng bước phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
trong những năm gần đây. Chính điều kiện thuận lợi này đã giúp cho thể thao giải
trí ở nước ta bắt đầu phát triển, từng bước theo xu thế phát triển chung của thế giới
2
và khu vực. Thể thao giải trí bước đầu được khẳng định vị trí trong nền thể dục thể
thao nước ta tại bộ "Luật thể dục, thể thao" được chủ tịch nước CHXHCN Việt
Nam ký lệnh công bố số 22/2006/L-CTN ngày 12/12/2006. Trong mục 1 chương II
về TDTT quần chúng có điều 18 về "Thể thao giải trí".
1. Nhà nước tạo điều kiện phát triển các môn thể thao giải trí nhằm đáp ứng
yêu cầu giải trí của xã hội.
2. Cơ quan quản lý Nhà nước về TDTT có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn
hoạt động thể thao giải trí.
ở nước ngoài, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc gần
đây phân chia thể dục, thể thao thành ba lĩnh vực: giáo dục thể chất; thể thao thành
tích cao; thể thao giải trí. Thể thao giải trí là ngành hàng kinh tế dịch vụ đáp ứng
nhu cầu nâng cao sức khoẻ thể chất và tinh thần của xã hội.
Tóm lại, theo các tư liệu ở trong và ngoài nước, thể thao giải trí được thừa
nhận là một bộ phận của nền thể dục, thể thao. Thể thao giải trílà bộ phận trong
cấu trúc thể dục, thể thao cho mọi người hoặc là bộ phận hợp thành của thể dục,
thể thao. Vì vậy, chúng ta muốn phát triển thể thao giải trí, cần xúc tiến nghiên cứu
về lý luận và thực tiễn hoạt động thể thao giải trí.
Vị trí của thể thao giải trí ở nước ta được khẳng định là một bộ phận cấu
thành của thể dục, thể thao cho mọi người bao gồm cả thể dục, thể thao quần
chúng, giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, thể thao trong lực lượng vũ
trang. Nói cách khác, thể thao giải trí là bộ phận hữu cơ của đa số các bộ phận cấu
thành nền thể dục thể thao Việt Nam.
Giải trí là nhu cầu tất yếu của xã hội phát triển
Thời đại giải trí trong xã hội loài người đặt ra yêu cầu mới đối với thể dục
thể thao, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho sự thay đổi về chức năng và kết cấu thể
dục thể thao, làm cho nhu cầu phát triển TDTT trở thành xu thế tất yếu.
Nhìn lại thời kỳ cổ đại và cận đại, hầunhư chưa xuất hiện thời kỳ giải trí
đúng nghĩa của nó trên phạm vi toàn thế giới. Cuộc sống giải trí mà người Hy Lạp
cổ đại coi là lý tưởng được xây dựng trên cơ sở giai cấp chủ nô cưỡng bức phục
vụ. Thiểu số người Hy Lạp dựa vào đa số người nô lệ để được giải trí, an nhàn.
Tuynhiên, so sự mất ổn định về môi trường chính trị và kinh tế, giai cấp quý tộc
không phải lúc nào cũng sung sướng. Như Aristole đã nói:"Giai cấp thống trị
không thể có cuộc sống an nhàn đích thực bởi họ sợ những người nô lệ vùng lên
đấu tranh". Những người được coi là có cuộc sống an nhàn ở thời phong kiến cũng
rất ít. Các nhà tư tưởng từ trước đến nay rất thích nghiên cứu về hiện tượng "giải
trí" manh nha từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng, giải trí
3
không phải là thời gian mà chúng ta có thể lựa chọn làm cái gì đó, mà là thực hiện
một nhân tố cơ bản của lý tưởng văn hoá trí thức dẫn tới sự lựa chọn hành vi phù
hợp với đạo đức, và những điều sẽ đem lại niềm vui và hạnh phúc. Triết học cổ đại
phương Đông coi giải trí như cái đích để vươn tới một cuộc sống lý tưởng. Tuy
nhiên, sự lý giải về giải trí lúc đó không bao gồm các hành vi có liên quan đến thể
dục thể thao. "Giải trí" xuất hiện sau nền văn minh cơ đốc giáo. Cơ đốc giáo có
quy định ngày chủ nhật (ngày Chúa nhật) tác riêng ngày nghỉ và ngày làm việc.
Chỉ trong ngày này, mọi người mới dừng lao động để nghỉ ngơi và lễ Chúa. Vì
vậy, người ta bắt đầu phân tách cuộc sống ngày thường với hoạt động nghỉ ngơi.
Ngày chủ nhật vì thế được quy định là ngày nghỉ theo luật pháp trên phạm vi toàn
thế giới cho đến hiện nay. Tuy nhiên trong quan niệm của Cơ đốc giáo từ trước thế
kỷ 14, nghỉ ngơi chỉ là để cầu khẩn và tôn thờ Chúa, chứ khôngcó hoạt động giải
trí cơ thể. Điều đáng chú ý là sau cuộc cải cách tôn giáo, trong "luân lý" của tôn
giáo, nghỉ ngơi nhàn rỗi đồng nghĩa với "thời gian lãng phí" đó là từ nghĩa xấu.
Trong "pháp quy Viơnevơ" có quy định rõ về việc cấm tổng cộng 200 trò vui chơi
giải trí. Thời xa xưa ấy, tôn giáo của Mỹ và của nhiều quốc gia phát triển hiện nay
đều quy định 40 mức phạt đối với những người chạy, nhảy,cưỡi ngựa, khiêu vũ
trong ngày chủ nhật. ở nước Anh, tôn giáo cũng coi hành khiêu vũ, săn bắn, đánh
cờ….là phạm tội nghiêm trọng.
Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 16 được coi như thời đại hoàng kim của giải trí.
Người La Mã, Hy Lạp cổ cũng đã có cuộc sống sung sướng, nhưng cũng chỉ hạn
chế trong tầng lớp quý tộc. Những nhà nghệ thuật trong thời kỳ đó cũng chỉ được
ví ngang với tầng lớp lao động thể lực. Họ phải làm việc trong điều kiện rất gian
khổ và thù lao cho những tác phẩm của mình rất ít ỏi.
Thời đại công nghiệp từ sau thế kỷ 18, ý thức chung của xã hội là lấy công
việc đặt lên hàng đầu, giải trí chỉ để dành cho người có tiền. Trào lưu"sùng bái
kinh tế" xuất hiện sau nền văn minh công nghiệp cận đại càng nhấn mạnh vai trò
của lao động. Họ tận dụng mọi nguồn lực, thậm chí cả giờ nghỉ ngơi để tìm kiếm
lợi nhuận. Vì vậy, giải trí hầu như không có vai trò gì.
Sự tách biệt giữa lao động và giải trí có yếu tố tôn giáo nhưng nó lại làm
thay đổi phương thức lao động. Trong thời đại công nghiệp, nhà tư bản đã triệt để
lợi dụng sức lao động của người công nhân để làm ra lợi nhuận. Đối với phần lớn
mọi người, "giải trí" trên thực tế chỉ là khái niệm. Còn nếu có ai dùng thời gian để
giải trí thì sẽ bị coi là "vô công rồi nghề", "vô tích sự".
Từ sau thế chiến thứ 2, kinh tế của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ
phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ thập kỷ 20-60. Với sự xuất hiện của máy tính
điện tử, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã xuất hiện. Từ năm 1951 -
4
1970, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của nền công nghiệp Đức và Nhật
đạt từ 7,5% đến 14,1%. Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu giải trí của con
người cũng ngày một gia tăng. Các dịch vụ giải trí (địa điểm giải trí, cơ sở hạ tầng
cho giải trí …) cũng tăng lên. Trong thời đại hậu công nghiệp như ngày nay, giải
trí là vấn đề được cả xã hội quan tâm.
Giữa thế kỷ 20 trở lại đây, đời sống kinh tế của nhiều quốc gia được cải
thiện đáng kể. Thời gian mọi người lao động và làm việc nhà ngày một giảm đi. Sự
phát triển của xã hội đặt ra vấn đề không thể gia tăng số người thất nghiệp, chỉ có
thể rút ngắn thời gian làm việc của người lao động, tăng thời gian nghỉ. Ở các nước
phát triển, sự khác biệt về đầu tư cho nhân lực và sức lao động, hình thành sự khác
biệt về phúc lợi kinh tế, từ đó tạo ra sự phân hóa về hành vi nghỉ ngơi. Tức là, xuất
hiện những tầng lớ coi nghỉ ngơi là trung tâm của cuộc sống và những người coi
công việc là chính.
Cuối thế kỷ 20, ngày càng có nhiều quốc gia phải đối mặt với sự lựa chọn
mới, hoặc là tiếp tục duy trì thời gian làm việc hiện tại để gia tăng tỉ lệ người thất
nghiệp, hoặc là không ngừng rút ngắn thời gian làm việc để mọi người có nhiều
thời gian tự do hơn, đồng thời giảm người thất nghiệp. Điều dễ nhận thấy là con
đường phát triển bền vững của nhân loại chính là gia tăng thời gian nghỉ ngơi cho
con người. Vì vậy, vấn đề nghỉ ngơi đã trở thành điểm nóng thu hút sự quan tâm
của rất nhiều người, và sẽ trở thành một đặc trưng của thời đại.
Thành quả của cách mạng thông tin đã làm cho tỉ lệ thời gian làm việc so
với cuộc đời ngày càng nhỏ đi, còn thời gian dành cho nghỉ ngơi, giải trí hưởng thụ
ngày càng nhiều lên. Vì vậy, giải trí nghỉ ngơi ngày càng có vị trí, vai trò quan
trọng trong cuộc sống. Quan niệm về nghỉ ngơi cũng có sự thay đổi. Con người có
thể ngồi ở nhà làm việc mà không phải đi ra ngoài. Thông qua Internet họ có thể
mua bán, ký kết hợp đồng, vui chơi giải trí … Có người giải trí khi làm việc, có
người làm việc khi giải trí … Thời đại của giải trí đang đến rất gần.
Giải trí là một thực tiễn tích cực của cá nhân hay tập thể. Giải trí đã trở
thành một hiện tượng xã hội quan trọng. Các kỳ nghỉ ngày càng nhiều, người đi
nghỉ hè, du lịch, nghỉ cuối tuần, đi ra nước ngoài … ngày một đông. Tốc độ phát
triển các hoạt động thể dục thể thao giải trí phát triển mạnh mẽ. Số người tham gia
các hoạt động thể dục thể thao tăng lên. ở các nước phát triển người ta coi việc giải
trí như mục tiêu theo đuổi của cuộc sống và cũng thông qua các hoạt động giải trí
để đánh giá chất lượng của cuộc sống. Các khu thể thao, vui chơi giải trí mang tính
công cộng, lợi nhuận, phi lợi nhuận … phát triển ở khắp mọi nơi.
Thời đại của giải trí không chỉ của một vài quốc gia mà là của cả nhân loại.
Giáo sư Je-phôn-đa - Viện nghiên cứu phát triển con người ở đại học Florida của
5
Mỹ chỉ ra rằng: "Giải trí đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ
và hiệu quả công việc". ở nhiều nơi trên thế giới, ngày nghỉ của con người đang
tăng lên. Các vấn đề nghỉ ngơi và giải trí đã trở thành một vấn đề văn hoá xuyên
quốc gia. Và mỗi nền văn hoá trong từng quốc gia đều rất coi trọng văn hoá giải trí
và đặt nó trong chiến lược phát triển của mình.
Sự gắn kết giải trí với thể dục thể thao
Thời đại giải trí đang đến gần, nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nhận thức
được sự khác biệt giữa giải trí với nghỉ ngơi, thời gian tự do tiêu khiển. Rất nhiều
người lãng phí thời gian một cách vô ích. Nhìn từ quan điểm về giải trí trong văn
hoá truyền thống phương Đông và những lý giải về giải trí học của phương Tây,
chúng ta vẫn chưa có sự chuẩn bị tư tưởng để giải trí lành mạnh, nhiều vấn đề lý
luận vẫn cần phải nghiên cứu.
Trong cuộc sống, thời gian của con người thường được chia làm hai phần:
một phần là thời gian dùng để duy trì các họat động cho sự sống như ngủ nghỉ, ăn
uống, bài tiết; còn phần kia là thời gian phần thứ nhất là không đổi thì thời gian của
phần thứ hai cũng không đổi. Tuy nhiên thời gian phần thứ 2 cũng có thể chia làm
2 loại: một là thời gian cho công việc, hai là thời gian cho các hoạt động khác.
Thời gian cho hai loại này là có thể thay đổi. Sự bố trí thời gian của hai loại này
cần phải được coi như một tiêu chí của đời sống kinh tế xã hội và tiến bộ xã hội.
Nhàn rỗi và giải trí thường hay bị nhầm lẫn với nhau. Nếu đem so sánh nhàn
rỗi (idle) là từ thường dùng và có nghĩa không tốt, còn giải trí (leisure: dùng nhiều
trong khoảng từ thập niên 80 của thế kỷ 20 trở lại đây) là từ biểu hiện tính chủ
động và hợp thời. Nhàn rỗi trong thời cổ đại không phải là giải trí trong thời hiện
đại. Nhàn rỗi là chỉ có nhiều thời gian thừa, còn giải trí là điều tiết thời gian một
cách tích cực, chủ động. Vì vậy, thời đại giải trí là biểu hiện của sự phát triển sang
giai đoạn mới của xã hội, là tiến bộ xã hội. Từ ngữ có nghĩa trung tính giữa hai từ
đó, người ta thường gọi là "Thời gian tự do".
Cuộc sống giải trí của con người, trước hết phải có cơ sở là thời gian tự do.
Thời gian tự do không phải là thời gian lao động trực tiếp, nó bao gồm thời gian
tiếp thu giáo dục, thời gian phát triển trí lực, thời gian thực hiện chức năng xã hội,
thời gian thực hiện các hoạt động giao tiếp, thời gian hoạt động thể lực và trí lực tự
do. Trước đây, do điều kiện kinh tế khó khăn, mọi người đi làm về thường ở nhà
ngủ, còn tụ tập bạn bè, đi siêu thị, giải trí bị coi là giết thời gian một cách lãng phí.
Hiện nay, thể dục thể thao giải trí, du lịch giải trí, câu lạc bộ giải trí … có sự khác
biệt rất lớn về mặt bản chất so với các trò tiêu khiển để giết thời gian như trước
đây. Trên thực tế, các hoạt động giải trí ngày nay ngoài tác dụng hồi phục sức khoẻ
bản thân, còn có tác dụng bồi bổ tinh thần, điều hoà tâm lý, nâng cao khả năng giao
6
tiếp … Các hoạt động giải trí cũng có tác dụng rất lớn trong việc giải toả stress,
nạp năng lượng sống cho con người … Vì vậy, hoạt động giải trí ngày nay có mối
quan hệ khá mật thiết tới sự phát triển toàn diện của con người, nó đã trở thành
một đối tượng nghiên cứu của khoa học.
Ở nước ngoài, nghiên cứu học thuật về giải trí đã có lịch sử hơn 100 năm.
Sự ra đời của nó đồng hành với quá trình phát triển của các nước phương Tây. Đầu
thế kỷ 20, xã hội Châu Âu nhận thức được tầm quan trọng của giải trí, đặc biệt họ
còn nhận thức được thông qua tiêu sài của tầng lớp những người giải trí có thể kích
thích một ngành nghề mới ra đời. Từ đó người ta bắt đầu nghiên cứu về vấn đề giải
trí, như kế hoạch giải trí, chiến lược giải trí … Các cơ sở nghiên cứu về giải trí
cũng bắt đầu ra đời. Một số trường đại học đã thành lập các khoa nghiên cứu về
giải trí. Ngành giải trí học phương Tây chủ yếu phân ra thành hai phái. Một phái
chú trọng công tác nghiên cứu định lượng về định tính về dịch dịch vụ giải trí,
thông qua các công thức để phân tích định tính, định lượng và khảo sát hành vi giải
trí, nhu cầu giải trí của con người, còn phái kia chú trọng nghiên cứu lý luận, như
nghiên cứu dưới góc độ triết học, xã hội học, tâm lý học, quản lý học, kinh tế học

Cuối thế kỷ 20, một số nước phương Đông đã bắt đầu có học giả tiến hành
nghiên cứu về giải trí. Năm 1992, Vương Nhã Lâm (Trung Quốc) đã viết cho các
doanh nghiệp du lịch Quảng Châu:"Vui chơi là một trong những nhu cầu cơ bản
của con người, phải có văn hoá chơi, phải nghiên cứu học thuật chơi, phải nắm
được kỹ thuật chơi, phải phát triển nghệ thuật chơi". Dưới sự khởi xướng của ông,
Trung tâm hoạch định văn hoá Lục Hợp Bắc Kinh được thành lập, nó trở thành cơ
quan nghiên cứu giải trí dângian đầu tiên ở Trung Quốc dưới góc độ văn hoá và
triết học.
Nhìn chung, các học giả phương Đông tập trung sự chú ý nghiên cứu 3 vấn
đề lớn sau đây: thứ nhất, nhìn nhận thế nào về sự gia tăng của thời gian tự do.
Người ta cho rằng khoảng 1 vạn năm trước, thời đại con người bắt đầu làm nông
nghiệp, chỉ có 10% thời gian dành cho nghỉ ngơi, thời đại thủ công nghiệp chỉ là
17%; thời đại công nghiệp là 23%, còn từ thập niên 90 của thế kỉ 20, mọi người có
thể dành 41% thời gian cho giải trí. Gia tăng thời gian tự do là mốc đánh dấu sự
tiến bộ xã hội, là thể hiện sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Từ khoảng 15-17 năm
nay, kết cấu nhu cầu của nhân dân có sự thay đổi về thị trường tiêu dùng và kết cấu
nghề nghiệp. Thứ hai, làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển ngành giải trí? Các học
giả cho rằng phương thức giải trí khác nhau sẽ đòi hỏi các sản phẩm dịch vụ giải trí
khác nhau. Vì vậy, cần phải có các ngành giải trí đáp ứng được các nhu cầu đó.
Giải trí đã trở thành thời đại ngày nay. Ở các nước phát triển ngành giải trí đang có
7
vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành giải trí phải chú trọng
phát triển về nhiều mặt, phải vừa đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân, vừa thu
được lợi ích kinh tế. Thứ ba, làm thế nào để học được cách giải trí thông minh?
Thời gian tự do ngày một nhiều, vậy thì phải sử dụng nó như thế nào. Nhà tư tưởng
Anh, Lauson đã nói: "Giải trí thông minh hay không chính là sự kiểm nghiệm nền
văn minh". Giải trí thông minh tức là "mỗi một thành viên trong xã hội đều có thể
phát triển tự do một cách toàn diện và phát huy tài năng, sức mạnh của mình một
cách tối đa".
Thể thao giải trí mặc dù đã xuất hiện từ rất sớm, nhưng nghiên cứu mối quan
hệ giữa thể thao với giải trí, tác dụng của nó đối với xã hội thì lại chưa được coi
trọng ở không ít quốc gia. Khi thế giới bước vào thời kỳ phát triển mới, thể thao
giải trí trở thành mục tiêu của cuộc sống sung túc và trở thành một trong những
phương pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mục tiêu cơ bản của thể dục thể thao là để phát triển con người. Về vấn đề
phát triển con người, C.Mác đã viết :"Trên thực tế, chỉ khi lao động có mục đích
của con người kết thúc, vương quốc tự do mới bắt đầu. Trong bất kỳ hình thái xã
hội nào, con người vănminh và con người nguyên thuỷ cũng giống nhau, đều bắt
buộc phải đấu tranh với thiên nhiên để thoả mãn nhu cầu của bản thân và để duy trì
sự sống của mình … Rút ngắn ngày làm việc chính là điều kiện cơ bản để hướng
đến vương quốc tự do".
Trên thực tế, vương quốc tự do của C.Mác là thực hiện chế độ ngày làm việc
4 giờ, đó là xã hội có sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ngày nay, thời gian làm
việc ngày một rút ngắn, mọi người có nhiều thời gian cho vui chơi giải trí, điều đó
tạo cơ sở thuận lợi để phát triển con người. Giải trí đã trở thành mốt của xã hội
phát triển, của con người ở thời đại mới. Tiêu chí chủ yếu của giải trí là: thứ nhất
có thời gian; thứ hai có tiền; thứ ba vui vẻ. Thể dục thể thao gắn kết với giải trí,
chính là vì đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí này. Thời gian có thể không nhiều,
tiền cũng có thể không cần nhiều, nhưng hoạt động thể dục thể thao rất vui vẻ, giúp
con người hoàn thiện cả thể chất lẫn tinh thần.
Cuối thế kỷ 20, nhu cầu thể thao gắn kết với giải trí tăng mạnh, đặc biệt ở
các nước phát triển. Thể thao gắn kết với giải trí đã trở thành một phần của cuộc
sống. Để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng phát triển thị trường, các nhà quản
lý, các doanh nghiệp đã cùng nhau hành động để Ngành thể thao gắn kết với giải
trí trở thành một ngành kinh doanh có lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cao. ở nước
ta, thể dục thể thao đã gắn kết với giải trí trong những năm gần đây. Ngay các môn
thể thao hiện đại mang tính chất giải trí cũng đã có ở nước ta như: thể thao trên
biển, Golf, Bowlling … GDP bình quân ở nước ta hiện nay là 630 USD/đầu người,
8
sẽ đạt 1000 USD/đầu người trong thời gian tới. Điều kiện để phát triển thể dục thể
thao gắn kết với giải trí sẽ ngày càng nhiều.
Vui chơi thư giãn là đặc trưng của hoạt động giải trí, nó là một nhu cầu của
con người. Thỏa mãn nhu cầu này là để đạt được niềm vui. Nghiên cứu về vui chơi
thư giãn, chính là quá trình làm thế nào để có được niềm vui? Niềm vui là hạnh
phúc càng nhiều thì tâm lý, tinh thần càng được thoả mãn, nó được xây dựng trên
nền tảng vật chất nhất định, đồng thời là điều kiện của niềm vui, hạnh phúc của
mọi người. Nghiên cứu lý luận niềm vui của nhân loại thường được các nhà tư
tưởng từ xưa đến nay ưa thích.
Từ một góc độ nào đó thì thể thao và thư giãn là một. Thể thao mà không có
"lạc" (niềm vui) thì sẽ không có sức sống. Tuy nhiên, quan niệm về chữ "lạc" của
phương Đông và phương Tây lại có sự khác nhau. Chúng ta cùng nhau xem xét các
quan niệm của Phương Đông. "Lạc" xuất hiện từ thời kỳ nguyên thuỷ khi chưa có
chữ viết. Để tiện cho việc ghi nhớ và tuyên truyền, truyền bá kinh nghiệm sản xuất,
con người chủ yếu sử dụng phương thức truyền khẩu và mô phỏng hành động.
Ngôn ngữ truyền khẩu ban đầu chỉ là những từ miêu tả trạng thái tình cảm của con
người như hỉ, nộ, ái, lạc … Sau đó mới dần dần được hoàn thiện và phát triển.
Chữ "lạc" được phát hiện sớm nhất trong giáp cổ văn, nó chỉ loại nhạc khí
được làm bằng gỗ, sau này "lạc" chủ yếu biểu thị3 ý nghĩa. Thứ nhất, có nghĩa là
âm nhạc, như trong "lễ ký, nhạc ký" có viết:"Nhạc giả, âm chi sở do sinh dã"; thứ
hai, có nghĩa là niềm vui (khoái lạc), như trong "luận ngữ - Học nhi"có viết:"Hữu
bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hư"; thứ ba, có nghĩa là sở thích, như trong
"luận ngữ" có viết:"Trí giả lạc thuỷ, nhân giả lạc sơn". Niềm vui hạnh phúc của
người xưa chính là "phúc, thọ, phú, khang ninh, tu hảo đức, khảo trung mệnh".
Ngoài ra 4 niềm vui lớn chính là: "cửu toả phùng cam lộ, tha hương cố tri, động
phòng hoa trúc dạ, kim bảng đề danh thời" (ý nói: sớm gặp đường thuận lợi, xa xứ
gặp lại bạn cũ, đồng phòng với vợ đẹp, thuận đường công danh). Niềm vui chính là
một loại cảm giác, nó là sự ước vọng của mọi người, dần dần đã trở thành một lời
cầu chúc trong cuộc sống, và ngày nay thường xuyên được sử dụng như "Chúc
sinh nhật vui vẻ" "Chúc năm mới vui vẻ", "Chúc cuối tuần vui vẻ". Hoạt động thể
thao dân gian phương Đông, đa số là các hoạt động tổ chức vào các ngày lễ tết,
mang đến cho mọi người niềm vui và sự đoàn kết trong cuộc sống. Các bậc triết
gia, danh nhân phương Đông luôn coi trọng giải trí, tư tưởng của các triết gia có
thể đại diện cho tinh thần giải trí của người phương Đông. Trang Tử ước muốn
mình là một con vật nhỏ để suốt ngày được vui chơi, hoặc biến thành một con
bướm bay lượn khắp nhân gian. Thời Khổng Tử, quan niệm về niềm vui đã được
ghi lại trong "Luận ngữ" niềm vui là sự coi trọng tinh thần, phi vật chất. Cái cao
9
thượng của "lạc" trong nho gia là dám đối mặt với hiện thực, theo đuổi và thực
hiện đạo nghĩa. Như vậy "hưởng lạc" sẽ thăng hoa thành "khoái lạc" (niềm vui).
Các nền văn hoá khác nhau sẽ có quan niệm về niềm vui khác nhau và hoạt
động giải trí khác nhau. Tìm ra cách biểu đạt và nhận thức của học thuyết nho giáo
về niềm vui, lấy đó làm căn cứ, để định nghĩa giải trí từ góc độ văn hoá phương
Đông sẽ thấy thêm được một số điều. Một là, niềm vui của người xưa dường như
không thể thiếu âm nhạc :"Tử tại tề văn chiêu, tam nguyệt bất tri nhục vị" hoặc
"Bất đồ vi lạc chí dư tư dã". Hai là, chịu ảnh hưởng quan niệm truyền thống của
văn minh phương Đông, thói quen của người phương Đông thường tìm niềm vui
trong sự tiết kiệm. Với nguồn tài nguyên có hạn và nền kinh tế tự cung tự cấp, đã
làm cho người phương Đông xưa không thể có sự chi tiêu và hưởng lạc như người
Châu Âu. Người phương Đông không kìm hãm dục vọng, cũng không chạy theo
dục vọng mà là "lạc chi hữu tiết" (vui mà tiết kiệm). Niềm vui đáp ứng nhu cầu vật
chất, niềm vui thỏa mãn kích thích giác quan, suy cho cùng cũng chỉ là đảm bảo
sức khoẻ bản thân. Làm thế nào để tinh hoa văn hoá truyền thống phương Đông
phát huy tác dụng, bên cạnh sự phát triển của văn hoá phương Tây hiện đại, trong
đó có văn hó thể thao giải trí, chính là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và giải
đáp. Ba là, niềm vui của phương Đông coi trọng "nhân ái" Đây cũng là cái đích cần
vươn tới của xã hội hiện đại.
Chúng ta tiếp tục xem xét quan niệm của Phương Tây cổ điển. Các nhà tư
tưởng phương Tây cho rằng, tránh khổ cầu lạc là bản tính của con người và tất cả
các loại sinh vật. Niềm vui hạnh phúc là mục đích cảu đời người. Họ đã tiến hành
nghiên cứu rất kỹ về lý luận niềm vuivà tính cách con người. Học giả đề xuất lý
luận niềm vui sớm nhất là Alisiti người Hy Lạp. Ông cho rằng, niềm vui là tôn chỉ
duy nhất của cuộc sống, niềm vui là thiện, nỗi khổ là ác. Bất kỳ niềm vui nào cũng
đều là tốt. Ông ta chủ trương đáp ứng nhu cầu của tất cả các giác quan, mục đích
của cuộc sống là niềm vui. Hưởng lạc hợp lý là hạnh phúc cao nhất. Niềm vui và
đau khổ là thước đo thiện và ác, thật và giả. Triết học gia Ypilinu của Hy Lạp
rằng:"Niềm vui chính là sự không đau khổ về cơ thể và không buồn phiền về tâm
hồn. Niềm vui là sự khởi đầu và là mục đích của cuộc sống. Bởi vì chúng ta nhận
thấy cuộc sống hạnh phúc là cái thiện cao nhất của đời người. Tất cả những cái
chúng ta có được đều xuất phát từ niềm vui. Mục đích cuối cùng của chúng ta vẫn
là đạt được niềm vui". Ông ta cho rằng niềm vui tinh thần có liên quan đến thể xác.
Có hai cách để có được niềm vui. Thứ nhất là học tập, nhận thức thế giới, tri thức
là tiền đề của niềm vui; thứ hai là phải biết loại bỏ chủ nghĩa bi quan chán nản,
phải lạc quan đối mặt với cuộc sống. Tư tưởng này có vẻ phù hợp với quan điểm
"vi học chi lạc" và "nhân giả chi lạc" (lấy việc học tập làm niềm vui). Ypilinu kêu
10
gọi con người hãy yêu cuộc sống, yêu tri thức, quý trọng sức khoẻ cơ thể và niềm
vui tinh thần.
C. Mác là người đặt nền móng và xây dựng chủ nghĩa duy vật, đã phản đối
con người trở thành nô lệ của đồng tiền. Ông cho rằng, đó là một điều kỳ quái.
Khát vọng của ông là mọi người đều được tự do phát triển toàn diện trong thế giới
hiện thực. Trong luận văn tiến sĩ của mình, C. Mác đã khẳng định lại nghiên cứu
của Ypilinu, và chỉ ra rằng, ông là người đầu tiên của chủ nghĩa cấp tiến chân
chính cổ đại, ông ta công khai chỉ trích tôn giáo cổ đại, nếu nói người La Mã có
thuyết vô thần thì chính ông ta là người tạo dựng cơ sở của thuyết vô thần đó.
Những người theo chủ nghĩa nhân văn nhấn mạnh tri thức có vai trò quyết
định đến hành vi và hạnh phúc của con người. Tôn chỉ của nó là phản đối thần học
can thiệp vào bản tính và vận mệnh con người. Thomas Moer là người theo chủ
nghĩa xã hội khoa học không tưởng của Anh thời Phục hưng. Ông cho rằng, con
người phải phục tùng tự nhiên, hưởng thụ niềm vui và mưu cầu hạnh phúc là mục
đích cuối cùng của cuộc sống."Tất cả mọi hành vi của chúng ta, bao gồm cả hành
vi đạo đức, cũng phải lấy niềm vui và hạnh phúc làm mục đích cuối cùng". Gớt
cho rằng, bản tính của con người là mưu cầu niềm vui và hạnh phúc, chạy trốn nỗi
buồn và đau khổ.
Nghiên cứu sự khác biệt giữa khoái cảm và niềm vui, chủ yếu là phân biệt
tính chất của niềm vui cao thượng, dục vọng thấp hèn với khoái cảm sinh lý. Đây
là một vấn đề triết học, vấn đề mỹ học, đồng thời cũng là một vấn đề tâm lý học,
sinh lý học.
Vui chơi thư giãn là hoạt động tạo khoái lạc ngoài quá trình lao động sản
xuất, nó là sự đạt khoái cảm về sinh lý và niềm vui tâm lý. Nếu cho rằng vui chơi
thư giãn chỉ là sự tiêu khiển về mặt cảm tính và các giác quan, và cho rằng hoạt
động giải trí chỉ là dục vọng sinh lý thấp hèn, không phải là nhu cầu tâm lý cao
thượng thì đó là nhận thức hoàn toàn lệch lạc. Chúng ta phải hướng đến phương
thức giải trí lành mạnh, cao thượng và hoàn thiện nhân cách.
Thoả mãn nhu cầu lý là bản năng sơ cấp của con người. Như C. Mác đã nói:
"ăn uống, sinh hoạt tình dục … đương nhiên là bản năng của con người. Nhưng
nếu làm cho bản năng đó thoát ly khỏi các hoạt động khác, đồng thời làm cho nó
trở thành mục đích cuối cùng và duy nhất, thì nó sẽ trở thành bản năng của động
vật". Theo đuổi khoái cảm là một trong những bản năng của động vật. Con người
cũng làm một loài động vật. Vui chơi thư giãn là hành vi để có được niềm vui,
đương nhiên là cần phải có quá trình cơ bản sản sinh khoái cảm. Khoái cảm của
con người chủ yếu đến từ các giác quan, còn nhu cầu của niềm vui cần khoái cảm
11
làm điều kiện cơ bản, còn khoái cảm không phải tất cả đều có thể phát triển thành
niềm vui.
Niềm vui là một hiện tượng tâm lý, nguyên nhân dẫn đến niềm vui và con
đường để đạt được nó rất đa dạng. Từ sau thế kỷ 19, con người đã bắt đầu nghiên
cứu về trạng thái niềm vui. Năm 1884, 1885, W.James và C.lange của Mỹ đã công
bố học thuyết về trạng thái tâm lý. Họ cho rằng, trạng thái tình cảm của con người
là do nội bộ cơ thể sản sinh ra, chủ yếu là những phản ứng do những thay đổi của
nội tạng. Học thuyết này mặc dù chưa nhận thức được vai trò của hệ thống thần
kinh -nội tiết trong phản ứng tình cảm, những đã bắt đầu nhận thức được tầm quan
trọng của những thay đổi sinh lý của cơ thể khi phát sinh tình cảm. Đến thập kỷ 20
của thế kỷ XX, con người mới dần dần nhận thức được tầm quan trọng của não
trong phản ứng tình cảm. W.B. Cannon của Mỹ đã đề xuất học thuyết não và tình
cảm, ông cho rằng trung khu điều tiết phản ứng tình cảm là ở não. Nhà khoa học
nổi tiếng người Nga là Palop thì nhấn mạnh vai trò chủ đạo của vỏ não trong quá
trình phát sinh tình cảm, ông cho rằng việc xác lập, duy trì và phá vỡ mốiliên hệ
thần kinh bộ não sẽ dẫn tới những phản ứng tâm lý và thay đổi tình cảm. Năm
1937 J.W.Papez đã đề xuất lý luận về vòng tuần hoàn thần kinh của tình cảm (vòng
tuần hoàn papez), bao gồm hệ thống tiếp giáp của não, vỏ não. Năm 1954, trong
một lần thí nghiệm ở động vật người ta phát hiện thấy "trung khu niềm vui" của
não. Sau đó rất nhiều tư liệu nghiên cứu phẫu thuật về não người cũng cho thấy ở
não có vị trí phát sinh tình cảm.
Khoái cảm sinh lý có được do dùng đồ vật kích thích các cơ quan cảm giác
không phải chỉ con người mới có. Động vật cũng có hiện tượng mang tính bản
năng này, chỉ có điều là bản thân nó không có nội dung về xã hội. Niềm vui của
các giác quan này chỉ là một quá trình rất ngắn, sau khi loại kích thích này dần dần
được cơ thể người thích ứng, nó sẽ nhanh chóng biến mất và không còn cảm giác
gì nữa. Mỹ cảm (cảm giác về cái đẹp) là một cảm giác đặc biệt của con người, nó
có nội dung xã hội phong phú, nó là sự thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người,
niềm vui mà mỹ cảm đem lại cho con người là cao thượng và lâu dài. Niềm vui
trong thể dục thể thao chủ yếu bao gồm cảm giác thoả mãn về tri thức, cảm giác
vuivẻ, hưng phấn khi trình độ kỹ thuật được nâng lên … Niềm vui thể dục thể thao
không phủ nhận sự tồn tại của khoái cảm, chỉ khi có khoái cảm mới đạt được niềm
vui cao nhất - đó là sự hưởng thụ cái đẹp.
Chơi bóng là thư giãn, đánh bài là thư giãn, xem ca nhạc là thư giãn, đọc
tiểu thuyết là thư giãn. Tác dụng của các hoạt động thư giãn trên đều là đem lại
niềm vui cho con người, tuy nhiên nó không giống các niềm vui khác của cuộc
sống, như cảm giác khi đói được ăn no, khi khát có nước uống.
12
Ngoài ra, khi tham gia hoặc xem người khác chơi thể thao, người ta sẽ hoà
mình vào môi trường giải trí thuần tuý mà không phải bận tâm đến hoạt động
thường ngày, thậm chí quên hết tất cả. Lúc đó con người có niềm vui là được tự do
và có những trải nghiệm về cuộc sống. Từ ý nghĩa đó có thể thấy, ngoài giá trị đơn
thuần, còn có giá trị thẩm mỹ nữa. Vì vậy thư giãn và thẩm mỹ có liên hệ mật thiết
với nhau.
Tuy nhiên, tính chất của khóai cảm đạt được và tác dụng của nó trong các
hoạt động thư giãn là khác nhau. Các hoạt động thư giãn đơn thuần như chơi cờ,
đánh bài, chơi bi da có tác dụng kích thích sinh lý của con người, nhưng không thể
nói đó chỉ là khoái cảm về sinhlý. Ngồi đánh cờ cả ngày thì không thể thoải mái về
mặt sinh lý được, may ra đó chỉ là sự bổ sung về mặt tâm lý mà thôi.
Sau khi phân biệt được khoái cảm sinh lý và niềm vui tinh thần, chúng ta có
thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề hưởng thụ và thư giãn. Hưởng thụ và
hạnh phúc liên quan đến thái độ của con người, là xu hướng giá trị của triết học
cuộc sống.ý nghĩa của cuộc sống là sự thể nghiệm, là độ sâu sắc và rộng rãi của sự
thể nghiệm. Cuộc sống có ý nghĩa nhất là sự thể nghiệm cao độ. Sự thể nghiệm cao
nhất là niềm hạnh phúc chứ không phải là hưởng thụ. Chủ nghĩa hưởng thụ phủ
định sự đau khổ, còn thể nghiệm cao nhất là dũng cảm đối mặt với hiện thực, vượt
qua sự đau khổ để có hạnh phúc.
Theo"Từ điển bách khoa Việt Nam" giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi, tâm
hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng thú. Con người có thể giải trí
qua thưởng thức văn hoá nghệ thuật, qua chơi xổ số hoặc đặt cược, và đặc biệt qua
hoạt động thể dục thể thao, du lịch sinh thái …
Vui chơi thư giãn (Leisure) gần như đồng nghĩa với giải trí (recreation).
Về lí luận và thực tiễn, thế giới phân biệt một cách tương đối 3 phương thức
giải trí: phương thức kết hợp vui chơi thư giãn và giải trí, phương thức này là một
hoạt động tương đối tự do theo sự ham thích của cá nhân để thoát khỏi áp lực về
hoàn cảnh văn hoá và hoàn cảnh vật chất, bao gồm giải trí thân thể, giải trí thực
dụng, giải trí văn hoá, giải trí xã hội, bao gồm chiêu đãi: tiếp đón, xem ca nhạckịch,
xiếc, điện ảnh, xem ti vi….(entertanment).Phương thức này hìnhthành một
ngành hàng sản xuất và cung ứng các sản phẩm văn hoá giải trí. Những năm gần
đây, các hoạt động thể dục thể thao giải trí cũng được đưa vào ngành hàng văn hoá
giải trí. Phương thức giải trí hiện thực thông thường, phổ cập, chủ yếu bao gồm du
lịch giải trí; văn hoá giải trí, xổ số, đặt cược, thể dục thể thao giải trí.
Thể dục thể thao giải trí
13
Xã hội phát triển, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngàycàng cao, dẫn
đến sự thay đổi lớn của con người về quan điểm và nhu cầu đời sống. Các nhà
khoa học Nhật Bảm dự báo, con người của thế kỷ XXI chuyển từ văn minh vậtchất
sang văn minh tinh thần. Con người trở thành mối quan tâm hàng đầu ở mọi quốc
gia, để con người thực sự là mục tiêu phục vụ, là động lực phát triển của xã hội.
Với nhận thức mới, người ta hiểu thế dục thể thao không chỉ để phát triển thể chất,
sức khoẻ thể chất, mà còn để phát triển sức khoẻ tinh thần, thoả mãn đời sống tinh
thần của con người. Thêm nữa, để phát triển thể chất của nhân dân, học sinh, người
ta cũng sử dụng các phương tiện, các bài tập thể dục thể thao, các phương pháp
gây hứng thú, đem lại sự khoan khái và niềm vui cho con người. Các triết gia từ
thời cổ Hy Lạp đã ra luận điểm: "Niềm vui là cải thiện cao nhất của con người, là
sự mở đầu và kết thúc của cuộc sống hạnh phúc". Vì vậy, giải trí và vận động thân
thể là hai khái niệm vốn không hoàn toàn đồng nhất, nay phải được nhất thể hoá
trong một loại hình hoạt động mang ý nghĩa tổng hợp: vận động thân thể, sức khoẻ,
giải trí. Hàng năm về trước, thể dục thể thao trở lại gắn liền với giải trí, gắn liền
với thiên nhiên.
Thể dục thể thao giải trí là loại hình hoạt động thể dục thể thao có ý thức, có
lợi cho sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của con người, được tiến hành
trong thời gian tự do ngoài giờ làm việc. Thể dục thể thao giải trí còn là loại hình
hoạt động thể dục thể thao tự giác, vừa sức, trong vùng năng lượng ưa khí (đủ oxy,
không bị nợ oxy).Thể dục thể thao giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện
công nghệ cao. Như vậy, thể dục thể thao giải trí được coi là phương thức sinh
hoạt giải trí, văn minh, sức khoẻ và khoa học của con người. Thể dục thể thao giải
trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn, thưởng thức thi
đấu biểu diễn, cổ vũ thi đấu biểu diễn, trong đó có sử dụng các phương tiện công
nghệ cao. Như vậy, Thể dục thể thao giải trí được coi là phương thức sinh hoạt giải
trí, văn minh, sức khoẻ và khoa học của con người.Thể dục thể thao giải trí có
phạm trù rất rộng, đan xe trong sự phát triển thể dục thể thao trường học và thể
thao thành tích cao. Hàng triệu người thưởng thức VĐV nhà nghề thi đấu cũng
thuộc thể thao giải trí. Cũng có thể nói, nếu thiếu giải trí và thể dục thể thao giải trí
kèm theo, chúng ta không thể phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên
nghiệp đc.

TAGS :

Bình luận của bạn

HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC